Thứ sáu, ngày 02 tháng ba năm 2012

Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) cam kết tích cực góp phần phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2012

BBT: Ngày 02/03/2012, tại Hà Nội, UBCK tổ chức Hội nghị thường niên nhằm bàn biện pháp phát triển thị trường chứng khoán năm 2012 Ông Bùi Văn Mai - Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng Thư ký, Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) đã đến dự và có bài tham luận. Ban Biên Tập web xin giới thiệu cùng bạn đọc.

C

ác vụ việc phá sản cũng như giá cổ phiếu giảm sút đã gây thiệt hại cho nhà đầu tư, gây ra nhiều dư luận về trách nhiệm xã hội trong công bố thông tin, trách nhiệm KTV và công ty kiểm toán, thậm chí cả trách nhiệm của các cơ quan và tổ chức liên quan đến thị trường chứng khoán. Nhằm góp phần nâng cao chất lượng Báo cáo tài chính (BCTC) đã kiểm toán và Báo cáo kiểm toán, với trách nhiệm của Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) xin tham gia một số giải pháp sau:Bài tham luận Hội nghị

1. Giải pháp bảo đảm công bố thông tin đúng thời hạn

- Khuyến khích các doanh nghiệp niêm yết thay đổi kỳ kế toán năm, thay vì 98% doanh nghiệp kết thúc kỳ kế toán năm vào ngày 31/12, bằng việc khuyến khích để có 1/3, tiến đến ½ doanh nghiệp kết thúc kỳ kế toán năm vào ngày 31/3, 30/6 hoặc 30/9.

Kết thúc kỳ kế toán năm vào ngày 31/12 gây ra nhiều khó khăn do đang vào dịp nghỉ Noel (25/12), tết Dương lịch (01/01), đặc biệt là tết Nguyên đán, thông thường là nghỉ 8-9 ngày, nhiều lễ hội. Bản thân các doanh nghiệp phải khóa sổ, lập BCTC, kiểm kê, đối chiếu, xử lý số liệu… nên lập BCTC chậm. Các công ty kiểm toán quá bận rộn vào mùa này nên cũng không đảm bảo thời gian kiểm toán nhanh, thậm chí ảnh hưởng cả chất lượng…

- Đề nghị các doanh nghiệp niêm yết ký hợp đồng kiểm toán sớm từ đầu năm, nếu ký hợp đồng kiểm toán cho 3 năm liền thì càng tốt.

Nếu ký hợp đồng sớm, các công ty kiểm toán sẽ bảo đảm soát xét BCTC quý, 6 tháng, 9 tháng, sẽ giúp cho việc kiểm toán cuối năm được nhanh chóng, chất lượng.

Nếu ký hợp đồng 3 năm liền sẽ giúp nâng cao chất lượng kiểm toán, chất lượng ý kiến tư vấn của KTV, trong khi giảm bớt được thời gian chào thầu, chấm thầu, thỏa thuận và ký hợp đồng từng năm…

- Xử lý nghiêm các doanh nghiệp công bố thông tin chậm.

Việc công bố thông tin chậm (đến 01/02/2012 còn 72 doanh nghiệp ở Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh chưa nộp BCTC quý 4/2011) có thể do nguyên nhân khách quan như trên, cũng có thể là nguyên nhân chủ quan do doanh nghiệp muốn điều chỉnh số liệu BCTC theo mong muốn. Công bố thông tin càng nhanh thì số liệu càng trung thực với thực tế hơn.

2. Giải pháp tăng cường năng lực và chất lượng tổ chức kiểm toán đủ điều kiện kiểm toán tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và tổ chức kinh doanh chứng khoán

- Cần ban hành mới Thông tư thay thế Thông tư 89/2007/QĐ-BTC ngày 24/10/2007 về lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán được chấp thuận kiểm toán tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và tổ chức kinh doanh chứng khoán, theo hướng nâng cao năng lực và chất lượng công ty kiểm toán đủ điều kiện kiểm toán doanh nghiệp niêm yết, như phải có 50 khách hàng kiểm toán thay vì 30 khách hàng trong 3 năm trước. Cần có 9, 10 KTV đủ 2 năm kinh nghiệm, thay vì chỉ cần 7 KTV… Công ty kiểm toán đã đủ điều kiện kiểm toán niêm yết thì phải tập trung năng lực để kiểm toán khách hàng niêm yết. Do đó yêu cầu mỗi năm phải kiểm toán 10, 15 khách hàng niêm yết thay vì chỉ kiểm toán 5 khách hàng như hiện tại. Bổ sung thêm điều kiện doanh nghiệp kiểm toán phải mua bảo hiểm Trách nhiệm nghề nghiệp hoặc trích lập quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp có số dư tồn quỹ từ bao nhiêu trở lên (ví dụ 200 triệu đồng).

Các tiêu chuẩn, điều kiện trong Thông tư cần được nâng cao, tạo ra sự khác biệt thật rõ ràng giữa các công ty kiểm toán đủ điều kiện và không đủ điều kiện kiểm toán niêm yết, và cũng cần có những biện pháp quản lý, kiểm soát chặt chẽ hơn hẳn các công ty kiểm toán không đủ điều kiện kiểm toán niêm yết.

- Thông tư thay thế Thông tư 89/2007/QĐ-BTC cũng nên giảm thiểu thủ tục hành chính trong việc xét duyệt đủ điều kiện kiểm toán niêm yết: Đối với các công ty kiểm toán lớn (ví dụ có từ 20 KTV đủ điều kiện kiểm toán niêm yết) thì nên xét 3 năm một lần. Các công ty nhỏ điều kiện dễ thay đổi thì xét hàng năm. Nếu kiểm tra, phát hiện Báo cáo kiểm toán nào có vấn đề thì xử lý KTV liên quan. Việc đình chỉ hoặc không xét công ty kiểm toán nào không đủ điều kiện kiểm toán niêm yết là rất hãn hữu vì quá trình kiểm toán là liên tục. Việc xét từng năm cũng không có nghĩa là khi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước công bố danh sách công ty kiểm toán đủ điều kiện kiểm toán niêm yết thì công ty kiểm toán và doanh nghiệp niêm yết mới ký hợp đồng kiểm toán mới…

3. Các giải pháp khác góp phần nâng cao chất lượng BCTC

Kiến nghị các doanh nghiệp niêm yết nên lựa chọn các công ty kiểm toán có mua bảo hiểm Trách nhiệm nghề nghiệp hoặc trích lập quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp có số dư lớn.

Kiến nghị các cơ quan Nhà nước

- Cần tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động của công ty kiểm toán: phối hợp với Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam tổ chức các cuộc kiểm tra thường niên và bất thường.

- Xử lý nghiêm minh và công khai các sai phạm của doanh nghiệp niêm yết, của KTV và công ty kiểm toán.

- Siết chặt việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của KTV, doanh nghiệp kiểm toán hoặc trích lập quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp. Phối hợp với các tổ chức bảo hiểm để đưa ra các sản phẩm bảo hiểm Trách nhiệm nghề nghiệp của KTV và công ty kiểm toán.

- Cần xử lý kịp thời các vướng mắc về chuyên môn nghiệp vụ kế toán, tài chính khi phát sinh.

- Phối hợp với VACPA tổ chức hội nghị thường niên với công ty kiểm toán để tổng kết, rút kinh nghiệm kịp thời trước mùa kiểm toán hàng năm…

Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) cam kết sẽ tăng cường chất lượng đào tạo, cập nhật kiến thức cho KTV; cung cấp dịch vụ tư vấn chất lượng và cung cấp các công cụ hỗ trợ hiệu quả cho Hội viên; thực hành kiểm soát chất lượng dịch vụ chặt chẽ hơn… góp phần nâng cao chất lượng KTV – Hội viên VACPA, góp phần nâng cao chất lượng BCTC tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và tổ chức kinh doanh chứng khoán góp phần phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2012./.

(Theo VACPA)

Thứ tư, ngày 22 tháng hai năm 2012

Kiểm toán nội bộ: Cần bịt 'khoảng trống' pháp lý

Trong khi kiểm toán độc lập, kiểm toán nhà nước đã được điều chỉnh hoạt động bằng hệ thống văn bản pháp lý khá hoàn chỉnh, từ luật đến nghị định, hệ thống chuẩn mực kế toán và thông tư hướng dẫn, thì đến nay hành lang pháp lý cho hoạt động kiểm toán nội bộ (KTNB) ở Việt Nam vẫn còn rất sơ sài.

Phan Hằng Phương

T

hực ra, từ thời điểm những năm 1997, 1998, Nhà nước đã quan tâm đến việc xây dựng bộ máy KTNB trong các doanh nghiệp nhà nước. Với việc ban hành Quyết định số 832/TC-QĐ-CĐKT ngày 28/10/1997; Thông tư số 52/1998/TT-BTC ngày 14/06/1998 và Thông tư 171/1998/TT-BTC ngày 22/12/1998, Bộ Tài chính đã bước đầu tạo ra một hành lang pháp lý cho hệ thống KTNB trong các DN nhà nước. Cụ thể, Thông tư số 171/1998/TT-BTC, hướng dẫn thực hiện KTNB tại DN nhà nước đã quy định: "KTNB là công việc thường xuyên của DN, do DN tổ chức thực hiện, nhằm đảm bảo độ tin cậy của các số liệu kế toán và các thông tin trong báo cáo tài chính của DN... Tùy thuộc vào quy mô sản xuất kinh doanh, địa bàn hoạt động tập trung hay phân tán, điều kiện cụ thể và trình độ năng lực của đội ngũ kế toán..., DN có thể lựa chọn bộ máy KTNB cho phù hợp và có hiệu quả thiết thực. Bộ máy KTNB chịu sự chỉ đạo trực tiếp của tổng giám đốc (giám đốc DN)".

Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn thực hiện, mô hình KTNB trong các DN nhà nước đã sớm "phá sản" bởi các DN nhà nước phản ánh, nếu thực hiện đúng quy định, biên chế sẽ tăng lên rất nhiều (!). Đây là nguyên nhân khiến đến tận hôm nay, hầu hết các tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước vẫn chưa thành lập được bộ phận KTNB, hoặc nếu có thì cũng "gộp" KTNB vào ban kế toán tài chính.

Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước - lực lượng được coi là "đầu tàu" của nền kinh tế còn như vậy, nên thật dễ hiểu khi quy định về KTNB vẫn khá xa lạ với hầu hết DNNY. Thừa nhận hiện đang có "khoảng trống pháp lý" về KTNB trong công ty niêm yết, một chuyên gia trong lĩnh vực kiểm toán cho biết, Luật DN năm 2005 và Quy chế quản trị công ty niêm yết do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ban hành, 2 văn bản điều chỉnh hoạt động của DNNY không có quy định bắt buộc phải thành lập bộ phận KTNB trong loại hình DN này.

Riêng với hệ thống ngân hàng, do mức độ nhạy cảm của hoạt động tín dụng trong nền kinh tế, nên gần đây, Ngân hàng Nhà nước đã quan tâm đến việc thiết lập hệ thống KTNB, với việc ban hành Thông tư số 44/2011/TT-NHNN ngày 29/12/2011 quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và KTNB của hệ thống tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Thêm một văn bản nữa đề cập tới vấn đề KTNB, là Luật Kiểm toán độc lập năm 2011 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012). Nhằm hỗ trợ cho kiểm toán độc lập hoạt động hiệu quả, Điều 57 của Luật này quy định về trách nhiệm của đơn vị có lợi ích công chúng như sau: "1. Xây dựng và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ phù hợp và có hiệu quả. 2. Tổ chức KTNB theo quy định của pháp luật để bảo vệ an toàn tài sản; đánh giá chất lượng và độ tin cậy của thông tin kinh tế, tài chính, việc chấp hành pháp luật, chế độ, chính sách của Nhà nước và quy định của đơn vị".

Tuy nhiên, từng đó quy định là chưa đủ để các DNNY có được nhận thức đúng đắn về KTNB, chưa nói tới việc thực hiện xây dựng, vận hành tổ chức này một cách nghiêm túc, chuyên nghiệp. Theo ông Phan Lê Thành Long, Phó TGĐ Công ty kiểm toán Mekong NAG, xuất phát từ việc khuôn khổ pháp lý không quy định, nên hiện nay, chưa có DNNY nào có ủy ban kiểm toán đúng nghĩa, mà nếu có thì bộ phận KTNB lại thuộc ban kiểm soát chứ không phải chủ tịch HĐQT hay tổng giám đốc. Bộ phận KTNB hiện cũng mới chỉ có tại một vài DN lớn, còn lại hầu hết các DNNY đều xa lạ với khái niệm trên. Đây là một trong những lý do khiến UBCK đang dự thảo Thông tư về Quản trị công ty (corporate governance) dự kiến có những yêu cầu về vấn đề này.

Đối với mỗi DN, vai trò cụ thể của KTNB là đánh giá rủi ro gian lận, điều tra ban đầu hoặc điều tra toàn diện các trường hợp nghi ngờ có gian lận, khuyến nghị cải tiến các biện pháp kiểm soát gian lận, theo dõi đường dây nóng tố giác/báo cáo gian lận và tiến hành các buổi đào tạo về đạo đức trong DN. Bởi vậy, KTNB được coi là tuyến phòng thủ hàng đầu nhằm chống gian lận trong nội bộ DN. Mong rằng các quy định pháp lý về KTNB cần sớm được Nhà nước ban hành như một yêu cầu bắt buộc đối với DNNY nhằm góp phần minh bạch tình hình tài chính DN, hạn chế những "góc khuất" vốn tồn tại không ít trong công tác tài chính tại các DNNY hiện nay.

(Theo ĐTCK)

Nguon: VACPA

Kiểm toán phát hiện nhiều sai phạm tài chính tại PetroVietnam

Tuy nhiên, việc khắc phục sai phạm tại PVN vẫn còn rất chậm. Tập đoàn mới chỉ nộp NSNN khoảng một nửa số tiền mà kiểm toán kiến nghị từ năm 2010.
Khoản tiền EVN còn nợ khiến PVN chậm tiến độ trong thanh toán các khoản phải nộp cho NSNN.

Theo nguồn tin từ Kiểm toán Nhà nước (KTNN), tổng số tiền cơ quan này kiến nghị Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) phải nộp ngân sách lên tới trên 185,76 tỉ đồng.

Tuy nhiên PVN và các đơn vị thành viên mới chỉ thực hiện nghĩa vụ và nộp vào NSNN 91,388 tỷ đồng, bằng 49% so kiến nghị của KTNN.

Số chưa thực hiện vẫn còn tới 94,388 tỷ đồng, bằng 51% số kiến nghị của KTNN.

Sau khi làm việc với PVN, KTNN đã xác định được một số nguyên nhân cản trở. Trong đó, 12,77 tỷ đồng còn “khất” là khoản tiền thuế thu nhập doanh nghiệp mà Tổng công ty điện lực phải nộp thay nhà thầu về tiền lãi vay của ngân hàng Calyon đang làm thủ tục miễn thuế tại Cục thuế Hà Nội.

Bên cạnh đó, đáng kể hơn là số 81,54 tỷ đồng cũng chưa thanh toán. Kiểm toán xác định do Tổng công ty Điện lực dầu khí chưa thu được tiền bán điện cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).

Tính đến thời điểm 8/11/2011 số tiền EVN còn nợ Tổng công ty Điện lực dầu khí là 11.981,08 tỷ đồng và phía dầu khí đã đề nghị Công ty mua bán điện thanh toán khoản nợ này trước 31/12/2011.

Một số chỉ tiêu tài chính PVN phải nộp cho NSNN (đơn vị: tỷ đồng).

KTNN đề nghị Tập đoàn chỉ đạo Tổng công ty điện lực Dầu khí sớm thu nợ EVN khoản này, đồng thời nộp ngân sách nhà nước khoản thuế giá trị gia tăng theo kiến nghị kiểm toán vào ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, cũng theo nguồn tin từ KTNN thì trong quá trình làm việc với EVN, cơ quan này đã phát hiện việc Tổng công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam thực hiện hỗ trợ lãi suất sai quy định, sai đối tượng gần 6 tỷ đồng. Khoản này đã được Tổng công ty thu hồi.

PVN còn mắc nhiều sai phạm trong việc chấp hành các quy định pháp luật về đầu tư, xây dựng cơ bản tại 3 dự án Văn phòng Viện Dầu khí, Trung tâm Tài chính Dầu khí và Khách sạn Dầu khí Vũng Tàu. PVN đã phải giảm trừ khi thanh, quyết toán các dự án này.

Nguồn tin kiểm toán cũng tiết lộ, cơ quan KTNN đã có chỉ đạo tới Tổng công ty Dầu Việt Nam khắc phục những tồn tại trong quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh; làm rõ trách nhiệm tập thể, cá nhân đại diện phần vốn nhà nước liên quan tại CTCP Dầu khí Mê Kông - Petromekong (niên độ 2008-2009) dẫn đến tình trạng thua lỗ.

Theo đó, Tập đoàn đã thực hiện tái cấu trúc 2 đơn vị, tổ chức cán bộ có thay đổi những chức danh quan trọng như Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc.

(Theo Dantri)

Thứ ba, ngày 21 tháng hai năm 2012

Kiểm toán doanh nghiệp niêm yết: Những vấn đề của 2012

Từ ngày 1/1/2012, Luật Kiểm toán độc lập có hiệu lực. Để đảm bảo tính minh bạch trong BCTC của các DN, có nhiều công việc cần phải được thực hiện đối với cả cơ quan quản lý, công ty kiểm toán và DN. Để đảm bảo tính minh bạch trong BCTC của các DN, có nhiều công việc cần phải được thực hiện đối với cả cơ quan quản lý, công ty kiểm toán và DN.

ThS Nguyễn Thanh Tùng

Phó TGĐ Công ty Kiểm toán AASC

Thuận lợi

Từ ngày 1/1/2012, Luật Kiểm toán độc lập có hiệu lực, với quy định chặt chẽ hơn về điều kiện của kiểm toán viên (KTV) hành nghề, điều kiện thành lập và hoạt động của DN kiểm toán, từ đó cải thiện chất lượng dịch vụ kiểm toán.

Từ ngày 1/7/2011, quy chế về quản trị công ty và điều lệ mẫu được áp dụng cho tất cả các công ty đại chúng (CTĐC), thay vì chỉ áp dụng cho DN niêm yết như trước đó. Với việc áp dụng các quy định này, DN phải đáp ứng được những điều kiện chặt chẽ về mặt tài chính, hiệu quả sản xuất - kinh doanh, cũng như cơ cấu tổ chức...

Trong khi đó, UBCK đã yêu cầu các DN niêm yết phải thực hiện soát xét BCTC bán niên. Đây là quy định phù hợp với thực tiễn, làm giảm áp lực về thời gian cho công ty kiểm toán (CTKT) vào cuối kỳ. Ngoài ra, các CTKT và KTV sau nhiều năm thực hiện dịch vụ kiểm toán cho các DN niêm yết, đặc biệt là năm 2011, đã rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm khi kiểm toán BCTC.

Khó khăn

Tuy nhiên, trong hoạt động kiểm toán, một số nghiệp vụ thực tế phát sinh, vướng mắc từ nhiều năm trước vẫn chưa được hướng dẫn như: trích lập dự phòng đối với cổ phiếu OTC trong trường hợp hầu như không có giao dịch; góp vốn bằng thương hiệu; ghi nhận lợi thế thương mại phát sinh từ các giao dịch nội bộ giữa các công ty chịu sự kiểm soát chi phối của công ty nắm quyền kiểm soát…

Hơn nữa, một số văn bản pháp luật đưa ra hướng dẫn chưa sát với tình hình thực tế, thậm chí trái với các văn bản đã ban hành, dẫn đến việc các DN có những cách hiểu và áp dụng không thống nhất đối với cùng một vấn đề. Điển hình là việc xử lý chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại số dư ngoại tệ cuối kỳ.

Bên cạnh đó, tình trạng cạnh tranh bằng giá phí giữa các CTKT diễn ra ngày càng phổ biến, có thể dẫn đến nguy cơ KTV không thực hiện đầy đủ các thủ tục kiểm toán, làm hạn chế chất lượng kiểm toán.

Năm qua, hầu hết DN đối mặt với tình trạng doanh thu bán hàng giảm, hàng hóa chậm luân chuyển, trong khi lãi suất ngân hàng cao, chi phí đầu vào tăng, dẫn đến nhiều DN không hoàn thành kế hoạch kinh doanh. Thậm chí, có DN thua lỗ nặng, khó có khả năng thanh toán. Điều này có thể dẫn đến việc DN có những gian lận để “làm đẹp” BCTC, nhằm đạt các mục đích khác nhau.

Rủi ro này ảnh hưởng đến các CTKT là cao, vì trong không ít trường hợp, dù KTV đã thực hiện đủ các thủ tục theo quy trình và chuẩn mực, nhưng vẫn không thể phát hiện được được hết các gian lận từ phía DN.

Chính bởi xác định rủi ro cao, áp lực lớn, nên đã có một số CTKT xin đăng ký để được UBCK chấp thuận kiểm toán DN niêm yết nhằm “làm đẹp” hồ sơ chào hàng, chứ thực tế không muốn tham gia kiểm toán các DN niêm yết.

Để đảm bảo tính minh bạch trong BCTC của DN niêm yết, CTĐC và quyền lợi của NĐT, Bộ Tài chính cần có quy định thống nhất trong việc xử lý chênh lệch tỷ giá, quy định về việc trích lập dự phòng đối với cổ phiếu OTC trong trường hợp hầu như không có giao dịch, góp vốn bằng thương hiệu, ghi nhận lợi thế thương mại phát sinh từ các giao dịch nội bộ giữa các công ty chịu sự kiểm soát chi phối của công ty nắm quyền kiểm soát… Ngoài ra, Bộ Tài chính cần đẩy nhanh việc sửa đổi hệ thống Chuẩn mực kế toán Việt Nam, dựa trên cơ sở chuẩn mực lập và trình bày BCTC quốc tế hiện hành.

Đối với UBCK, hàng năm, cơ quan này nên phối hợp với Vụ Chế độ kế toán kiểm toán (Bộ Tài chính), Hội Kiểm toán viên hành nghề tổ chức hội thảo để rút kinh nghiệm về những sai sót trong quá trình kiểm toán với các CTKT được UBCK chấp thuận. Đặc biệt, cần đưa ra ý kiến về xử lý các trường hợp chưa có quy định hoặc quy định không thống nhất giữa các văn bản pháp quy để các CTKT có hướng xử lý thống nhất.

Về phía DN, nên quyết định lựa chọn CTKT có uy tín, chất lượng để thực hiện kiểm toán BCTC, không nên đặt tiêu thức giá phí rẻ để lựa chọn CTKT. DN nên yêu cầu KTV phải giải trình trong ĐHCĐ về ý kiến ngoại trừ của KTV trong báo cáo kiểm toán. Mặt khác, chủ động phối hợp với KTV trong việc cung cấp hồ sơ, xử lý các vướng mắc và soát xét số liệu kế toán trước khi phát hành BCTC, để hạn chế sự khác biệt giữa BCTC trước kiểm toán và BCTC đã được kiểm toán.

(Theo ĐTCK)
Nguon: VACPA