Thứ tư, ngày 15 tháng hai năm 2012

Cả đời si mê nghề nghiệp kế toán, kiểm toán

C¶ ®êi si mª víi nghÒ nghiÖp

kÕ to¸n, kiÓm to¸n

Ông Bùi Văn Mai

Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký

Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam

Nguyên Vụ trưởng Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán

Bộ Tài chính trong 10 năm (1998-2008)

Ông Bùi Văn Mai

Trong một cuộc giao lưu với sinh viên Học viện Tài chính Hà Nội, có bạn sinh viên hỏi tôi: “Nếu Bác còn trẻ, được chọn lại nghề nghiệp cho mình thì bác sẽ chọn nghề gì?” Tôi cảm ơn câu hỏi ấy và trả lời ngay: “Bác vẫn chọn nghề kế toán, kiểm toán”.

Nhân dịp kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán, Bộ Tài chính 11/10/1956-2011, tôi bồi hồi nhớ lại những suy nghĩ và cảm nhận về nghề nghiệp của cả đời mình trong 40 năm qua.

Tháng 8 năm 1967, khi đó còn chiến tranh bắn phá miền Bắc của đế quốc Mỹ, tôi nhận được giấy báo nhập học Trường cán bộ tài chính, kế toán, ngân hàng Trung ương đang sơ tán tại huyện Lập Thạch, Tỉnh Vĩnh Phú. Cái tên trường thật dài và không có chữ Đại học ấy cũng không gây cho tôi ấn tượng gì. Tôi chỉ nghĩ đơn giản: Có lẽ bố tôi công tác ở Bộ Tài chính nên họ gọi tôi đi học trường có chữ Tài chính.

Không thể nói hết nỗi vất vả trong cuộc sống sinh viên lúc ấy: hầu như không có một đồng tiền trong túi, phải tự làm nhà ở, hội trường học, chăn nuôi, trồng trọt, đào hào, không có một bộ quần áo lành lặn…việc học tập cũng cực kỳ khó khăn: học trên bàn tre, nứa tự làm, đèn dầu hỏa, không có tài liệu phát cho học sinh; thầy, cô đọc bài cho chép, ghi được gì thì biết thế, không có hầu như một phương tiện thông tin, tham khảo nào…chỉ được cái là nội dung học khi đó chưa nặng nề như hiện nay; học sinh trao đổi, thảo luận rất nhiều…

Tôi nhớ nhất những khái niệm trừu tượng về kế toán, nhất là chữ Nợ/Có; bên Nợ, bên Có; Tài sản Nợ, Tài sản Có…không có liên hệ gì với cuộc sống. Thầy, cô nói nhiều lần cũng không hiểu được. Có lần làm bài kiểm tra có bút toán: Tài sản Có tăng do nguồn tăng; Tài sản Có tăng do Tài sản Có khác giảm…tôi căng đầu không hiểu được, nhìn sang bạn, thấy bạn viết thế nào thì chép lại như thế…

Thế rồi cái khoa học, logic, chặt chẽ, tài tình của hai chữ Nợ/Có cho phép con người có thể phản ánh toàn bộ cái phức tạp, phong phú, rối rắm của hoạt động kinh tế, kinh doanh, sản xuất và phi sản xuất của một doanh nghiệp, một tổ chức và cả một ngành, thậm chí cả nước…vào một bản báo cáo tài chính, mà nếu là người có chuyên môn và kinh nghiệm có thể phân tích, đánh giá cả ngày về tình hình và kết quả kinh doanh, tài sản, tài chính của đơn vị đó…đã thu hút tôi từ lúc nào. Đến nay, ngoảnh lại đã 40 năm si mê, mết mệt về nó.

Nhận quyết định tiếp nhận cán bộ tập sự tại Vụ Chế độ kế toán và Báo biểu (Tên Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán lúc đó), tôi đến Vụ vào ngày 6/9/1972 do một bác chuyên viên ở Vụ Tổ chức cán bộ dẫn đến. Anh Trương Công Phú lúc đó là Phó Trưởng phòng Chế độ kế toán Xây dựng cơ bản đón tiếp tôi và dẫn sang gặp Bác Ngô Văn Ngộ - Vụ trưởng. Lần đầu tiên đến Bộ Tài chính, gặp các bác trong Vụ hầu hết đều là người lớn tuổi, cảm giác bỡ ngỡ, sợ sệt còn đeo bám tôi đến 10 ngày sau mới dám quay số điện thoại gọi hỏi thăm các bạn cùng lớp về cơ quan khác.

Với bản tính cần cù, ham công, tiếc việc…được bố tôi dạy bảo từ nhỏ và suy nghĩ sẽ cố gắng làm tất cả mọi việc được giao, dù chỉ là đọc, soát tài liệu, chép lại bản thảo viết tay do bị sửa chữa qua nhiều người; sắp xếp, dán tài liệu đi, đến vào các cặp có gáy…cho đến việc lau dọn bàn ghế, trình bày báo tường, đi thăm hỏi người ốm; đưa hàng hóa, thực phẩm do Vụ chia cho các gia đình…tôi đều làm cật lực, miệt mài. Về chuyên môn, mấy năm đầu hầu như chỉ là tự đọc tài liệu, đi thực tế ở các công trường, nhà máy…xem họ làm kế toán thế nào, tham gia và hướng dẫn họ làm những gì mình biết…Sau mấy năm, được Phòng và Vụ giao, tôi hăm hở viết các bài giảng đầu tiên về kế toán vật liệu, kế toán vật rẻ tiền mau hỏng, kế toán tài sản cố định…rồi được cử đi giảng ở các tỉnh xa. Cho đến năm 1978-1979, tôi đã được cử đi giảng nguyên một lớp chế độ kế toán doanh nghiệp cho các tỉnh Hậu Giang, Bến Tre…; và năm 1985-1986 đã đi giảng nguyên lớp cho kế toán trưởng ngành du lịch ở Vũng Tàu, kế toán trưởng ngành Hàng Hải ở Nhà Trang…Văn bản chế độ kế toán những năm đó ban hành rất ít, cán bộ trẻ hầu hết chỉ đi kiểm tra kế toán và hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện…

Từ năm 1970, hệ thống kế toán Việt Nam làm theo hệ thống kế toán thống nhất của Liên Xô (cũ), năm 1983-1985 tôi được cử đi học nâng cao ở Lêningrát. Về làm việc 2 năm lại được cử đi làm chuyên gia tài chính – kế toán ở Campuchia (1987/1988). Bước vào thời kỳ đầu đổi mới, tôi được bổ nhiệm làm Phó Vụ trưởng Vụ chế độ kế toán và được cử đón tiếp và làm việc với người nước ngoài đã giúp tôi học tập được thật nhiều. Những hiểu biết mới về lĩnh vực kế toán theo chuẩn mực quốc tế và lĩnh vực kiểm toán độc lập đã thu hút tâm trí, sức sực còn trẻ trung, sung sức…và mong muốn khám phá một nghề nghiệp mới – kiểm toán độc lập, đã giúp tôi hăm hở nhận chức danh: Giám đốc công ty kiểm toán Việt Nam (VACO) từ 13/5/1991.

Từ quan chức nhà nước quen với chế độ, chính sách, sang làm kinh doanh quả là không đơn giản; phải cạnh tranh, marketing, quảng bá sản phẩm, thu chi bằng tiền thực, lo toan cho người lao động…nhưng không làm giảm tâm huyết của tôi dành cho chuyên môn, nghề nghiệp kiểm toán mới mẻ. Lại những khái niệm thật mới về kiểm toán độc lập, quy trình, thủ tục hành nghề mới…đã giúp tôi lớn lên thật nhiều không chỉ cái hay, mặt phải mà còn cả cái dở, mặt trái của nghề nghiệp. Rủi ro nghề nghiệp và va chạm xã hội, đồng tiền…đã giúp tôi cứng cáp, vững vàng hẳn lên. Những chuyến đi học tập, khảo sát nước ngoài liên tục; kiến thức, kinh nghiệm quốc tế giúp tôi thay đổi cách nhìn nhận về Việt Nam: “Xét về từng con người riêng lẻ, Việt Nam ta rất nhiều nhân tài. Hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân mình cũng không thua, không kém cỏi so với các chuyên gia quốc tế danh tiếng mà mình đã gặp và cùng làm việc…Vậy sao chúng ta vẫn chưa làm được những gì các bạn đã làm. Riêng về nghề nghiệp kế toán, kiểm toán cũng vậy…”

Với nhận thức mới như vậy, tôi đã dành hết tâm trí, nghị lực đúng vào thời sung mãn nhất cho việc xây dựng và phát triển Công ty kiểm toán Việt Nam VACO (Deloitte Việt Nam hiện nay). Tuy chưa đến đích vẻ vang như ngày nay, nhưng những nền tảng có được ở VACO đến năm 1998 là đã trở thành công ty kiểm toán Việt Nam lớn nhất, là thành viên một phần của Hãng kiểm toán quốc tế Deloitte – một trong 4 hãng Big 4 lớn nhất thế giới; VACO cũng là công ty tiền thân, đi đầu góp phần hình thành và phát triển ngành kiểm toán độc lập Việt Nam trong 20 năm qua.

Tháng 7/1998, tôi được Bộ điều động trở lại làm Vụ trưởng Vụ chế độ kế toán và kiểm toán, tôi hơi bị đột ngột vì những ý tưởng còn dở dang ở VACO, nhưng cũng thấy vui với công việc mới dự kiến. Lúc đó vừa kết thúc Dự án kế toán – kiểm toán EuroTapViet, cánh cửa quốc tế rộng mở; bạn bè đồng nghiệp quốc tế bắt đầu biết đến Việt Nam và sẵn lòng hỗ trợ. Cả một núi công việc bày ra trước mắt. Thật là vất vả nhưng cũng thật là may mắn, có lẽ chưa bao giờ Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán có một đội ngũ cán bộ trẻ trung và sung sức như vậy. Tất cả đều được đào tạo theo thông lệ quốc tế qua 4 năm dự án EuroTapViet; 2 Phó Giáo sư, 6 Tiến sĩ, 8 Thạc sĩ; công việc lại đúng vào giai đoạn 2 đổi mới toàn diện hệ thống kế toán, kiểm toán Việt Nam theo kinh tế thị trường, theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế.

Thiên thời, địa lợi, nhân hòa” cộng với những gì đã kết tinh được trong gần 30 năm học tập, làm việc tại Vụ và thực hành kế toán, kiểm toán tại công ty VACO đã giúp tôi phát lộ trong 10 năm làm Vụ trưởng. Có lẽ chưa có thời kỳ nào trong 55 năm qua Vụ ta gặt hái nhiều thành công đến thế, đã hoàn thành một khối lượng công việc khổng lồ mang ý nghĩa to lớn là đổi mới toàn diện, triệt để hệ thống kế toán, kiểm toán Việt Nam theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cụ thể: đã ban hành Luật kế toán (2003), 4 Nghị định hướng dẫn Luật, 2 Nghị định, nhiều thông tư, quyết định về kiểm toán độc lập, công bố 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam, ban hành nhiều thông tư hướng dẫn chuẩn mực kế toán, nhiều chế độ kế toán doanh nghiệp, doanh nghiệp vừa và nhỏ, chế độ kế toán hành chính sự nghiệp…Đã công bố 37 chuẩn mực kiểm toán, chuẩn mực đạo đức kế toán, kiểm toán. Đã tổ chức thành công Hội nghị kế toán toàn quốc, tổng kết 15 năm thực hiện Pháp lệnh kế toán, thống kê (1988/2003), tổ chức Đại hội kế toán các nước Asean (2005), Hội nghị tổng kết 10 năm (1991-2001) và 15 năm (1991-2006) kiểm toán độc lập; thành lập Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA); lần đầu tiên chuyển giao một số công việc cho Hội nghề nghiệp; tạo lập và duy trì liên tục các kỳ gặp mặt cuối năm các thế hệ cán bộ Vụ Chế độ kế toán tại cả 2 miền hoặc tập trung cả nước. Lần đầu tiên Vụ chế độ kế toán và kiểm toán tổ chức kỷ niệm 45 năm và 50 năm thành lập Vụ…Những cán bộ, chuyên viên của Vụ trong 10 năm ấy hoàn toàn có quyền tự hào về những gì Vụ đã làm được khi đón nhận Huân chương lao động hạng 3 của Chủ tịch nước trao tặng Vụ.

Kết thúc công việc ở Vụ, không một ngày nghỉ, tôi lại chuyển sang làm Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch thường trực Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) – một Hội nghề nghiệp mới mẻ, một mô hình Hội hoàn toàn mới đã hình thành từ năm 2005 và nay đang định dạng hoạt động, xác định chỗ đứng trên thương trường và trong lòng đồng nghiệp trong nước và bạn bè quốc tế. Trong các Hội xã hội nghề nghiệp đã có, cũng chưa từng có hội nào trực tiếp thực hiện soạn thảo văn bản pháp luật (chuẩn mực kiểm toán) trình Bộ ban hành; tham gia xây dựng văn bản pháp luật sát sao, thực tế; đào tạo cập nhật kiến thức chuyên môn bài bản, hiệu quả cho kiểm toán viên; tư vấn chuyên môn hàng ngày; thực hiện kiểm tra chất lượng dịch vụ sát sao và nhiều hoạt động khác có chất lượng, hiệu quả…như VACPA. VACPA cũng là tổ chức tự chủ tài chính và là nơi hội tụ nghề nghiệp của hơn 170 công ty kiểm toán, gần 2000 kiểm toán viên…

***

Mỗi người đều có ít nhất một nghề, nhưng chỉ trở thành nghiệp khi mình thực sự yêu thích, say mê, tâm huyết và dành trọn vẹn niềm tin. Nghề nghiệp kế toán, kiểm toán tưởng như khô khan là thế, nhưng nó đã làm tôi si mê, mết mệt cả đời mình. Nghề không phụ người mà đã giúp tôi có được những gì các bạn đang thấy. 40 năm một nghiệp nghề và có thể thời gian còn hơn thế. Nhưng cho đến lúc này, tôi thấy lòng mình thật thanh thản vì đã sống, đã cống hiến cho nghề nghiệp và cho đời.

(Định Công – Hà Nội 3/1 Xuân 2012)

Nguon: VACPA

Ảnh hưởng của tính trọng yếu vào thực hành kế toán

Trọng yếu là một khái niệm rất quan trọng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. Trong thực hành kế toán, kế toán viên cần có những hướng dẫn cụ thể hơn về tính trọng yếu để tránh đưa ra quyết định theo ý tưởng chủ quan. Dường như thực hành kế toán và phán đoán chủ quan có ảnh hưởng lớn trong việc xem xét mức trọng yếu về các sự kiện và các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong doanh nghiệp.

TS. Trần Mạnh Dũng (CPA)
Đại học Macquarie - Australia

Giới thiệu

Áp dụng khái niệm trọng yếu không phải là vấn đề mới. Tính trọng yếu được áp dụng cho hầu hết các quyết định liên quan đến các hoạt động kinh tế. Từ những năm 1800, Tòa án Vương Quốc Anh đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trình bày các thông tin cho những người sử dụng Báo cáo tài chính (BCTC). Tại Hoa Kỳ, tầm quan trọng và ảnh hưởng của tính trọng yếu được tranh luận gay gắt sau khi Luật An ninh năm 1933 ban hành. Khái niệm trọng yếu là rất quan trọng cho mọi quyết định kinh tế. Ảnh hưởng của trọng yếu là điểm mấu chốt để hiểu và áp dụng Chuẩn mực lập Báo cáo tài chính Quốc tế (International Financial Reporting Standards – IFRS), và lập và phân tích các thông tin trên BCTC.

Khái niệm trọng yếu giữ vai trò quan trọng trong việc ra quyết định liên quan đến lĩnh vực quản lý nói chung và lĩnh vực kế toán nói riêng. Các chỉ tiêu, nghiệp vụ, sự kiện được coi là không trọng yếu thì không cần trình bày tách biệt trên BCTC và bởi vậy những thông tin được coi là không trọng yếu thì không cần báo cáo cho những người sử dụng BCTC. Kỳ vọng của những người sử dụng BCTC là biết hết tất cả những thông tin được công bố (bao gồm thông tin bắt buộc và thông tin không bắt buộc). Theo Watts và Zimmerman (1986), trong một vài trường hợp cụ thể các nhà đầu tư quan tâm nhiều hơn đến những thông tin không bắt buộc phải công bố. Theo Bernstein (2001), rất đơn giản để hiểu về khái niệm trọng yếu nhưng việc áp dụng nó trong thực hành kế toán lại là vấn đề khó khăn.

Khái niệm trọng yếu

Theo tuyên bố số 2 – Đặc điểm định tính của thông tin kế toán (1980) của Ủy ban Chuẩn mực Kế toán Tài chính Hoa Kỳ, trọng yếu được hiểu là độ lớn của thông tin bị bỏ sót hoặc sai phạm của thông tin kế toán dẫn đến khả năng việc phán xét dựa vào thông tin kế toán đó bị thay đổi hoặc bị ảnh hưởng bởi việc bỏ sót hoặc sai phạm đó (Đoạn 132).

Theo Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (1989) xác định thông tin được coi là trọng yếu như sau:

“Thông tin được coi là trọng yếu nếu việc bỏ sót thông tin hoặc sai phạm có thể ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của những người sử dụng Báo cáo tài chính. Tính trọng yếu phụ thuộc vào quy mô của chỉ tiêu hoặc sai sót được phán xét trong những điều kiện cụ thể. Trọng yếu liên quan đến độ lớn hoặc bản chất của sai phạm (bao gồm cả việc bỏ sót thông tin tài chính) hoặc đơn lẻ hoặc tổng hợp lại với nhau) dẫn đến khả năng các quyết định kinh tế đưa ra bị ảnh hưởng”.

Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 200 – Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán BCTC, và Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 320 – Tính trọng yếu trong kiểm toán, trọng yếu được hiểu là thuật ngữ chỉ tầm quan trọng của một thông tin (số liệu kế toán) trên BCTC. Thông tin được coi là trọng yếu nếu thiếu thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của những người sử dụng BCTC. Mức trọng yếu được xác định tùy theo từng điều kiện cụ thể và nó được xem xét cả trên tiêu chuẩn định lượng và định tính.

Dựa trên các khái niệm trên, sẽ không thực sự quá phức tạp để có thể hiểu được nội dung của trọng yếu. Nhưng những khái niệm này không cung cấp sự hướng dẫn thực tế để chỉ ra xem kế toán nên xác định mức trọng yếu như thế nào, mà chỉ đề cập rằng sự xét đoán nghề nghiệp của kế toán viên là quan trọng trong việc đưa ra quyết định. Điều này hàm ý rằng kế toán viên nên áp dụng sự xét đoán mang tính thuyết phục và hợp lý liên quan đến mức trọng yếu.

Phân loại trọng yếu

Một trong những hạn chế về việc đưa ra quyết định đó là bao nhiêu thông tin nên trình bày trên BCTC là đủ. Nếu kế toán viên muốn trình bày tất cả các sự kiện kinh tế, khi đó BCTC sẽ bao gồm hàng loạt các thông tin không cần thiết và điều này làm cho người đọc BCTC hiểu sai về bản chất của BCTC. Ngược lại, nếu kế toán viên không trình bày sự kiện kinh tế hoặc không chỉ ra các phương pháp và chính sách kế toán cũng làm cho người đọc hiểu sai về BCTC. Điều này có nghĩa rằng nhận thức hay sự xét đoán về mức trọng yếu của kế toán viên có thể khác với nhận thức về tính trọng yếu của người sử dụng BCTC. Bởi vậy, nhận định của kế toán kiên về tính trọng yếu là rất quan trọng. Việc xem xét xem sai phạm có ảnh hưởng trọng yếu hay không phụ thuộc vào tính đa dạng của đặc tính định lượng và định tính của thông tin kế toán.

Hướng dẫn thực tế về trọng yếu

Trọng yếu liên quan đến việc trình bày thông tin trên BCTC. Kế toán viên xem xét tất cả các sự kiện và nghiệp vụ kinh tế và quyết định xem có nên trình bày thông tin đó hay không. Trong việc chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phán xét mức trọng yếu, Pattillo và Siebel (1974) phân loại thành nhân tố tài chính (gồm cả định tính và định lượng) và nhân tố phi tài chính (định tính và định lượng). Các nhân tố này bao gồm quy mô xác định hoặc tỷ lệ %; bản chất của thông tin; ảnh hưởng về yêu cầu kế toán và lập báo cáo; ảnh hưởng đến trình bày BCTC; đặc tính của công ty hoặc của ngành; môi trường kinh tế chung; khả năng quản lý; mong muốn của nhà quản lý, nhân viên kế toán hoặc kiểm toán viên bên ngoài.

Đo lường định lượng và định tính

Theo nhóm nghiên cứu Thompson (1990), các nhà ban hành chính sách không đưa ra hướng dẫn cụ thể nào về tính trọng yếu. Dựa trên các nghiên cứu về lĩnh vực kế toán, Thompson (1993) phân loại trọng yếu liên quan đến đo lường định tính theo ba khía cạnh, đó là theo phán đoán chủ quan, theo kinh nghiệm và theo bản chất vốn có của sai phạm.

Để kiểm tra cơ sở xác định mức trọng yếu do các công ty kiểm toán áp dụng, Woolsey (1954) sử dụng phiếu điều tra cho các kiểm toán viên. Woolsey nhận thấy rằng quyết định mức trọng yếu về một sự kiện dựa trên tỷ lệ % của sự kiện đó vào thu nhập hiện tại và cho rằng mức trọng yếu từ 5% đến 15% thu nhập trước thuế. Nhân tố kinh tế được xem xét để xác định mức trọng yếu. Một vài công ty kiểm toán xác định mức trọng yếu từ 5% đến 10% thu nhập thuần. Các cơ sở đo lường trọng yếu như xu hướng thu nhập hoặc tăng trưởng thu nhập đã được sử dụng. Các kiểm toán viên thường sử dụng ba đo lường định lượng, đó là ảnh hưởng % vào thu nhập thuần, ảnh hưởng % vào tổng doanh thu và ảnh hưởng % vào tổng tài sản (Kinney, 1986).

Do không có sự hướng dẫn cụ thể nào về xác định mức trọng yếu từ phía các nhà ban hành chính sách, kế toán viên thường sử dụng một vài nguyên tắc dựa vào bản chất của các khoản mục trên BCTC và quy mô của đơn vị. Cụ thể:

1. 10% đến 15% thu nhập thuần bình quân sau thuế cho từ 3 đến 5 năm gần đây nhất;

2. 5% đến 10% thu nhập của các năm hiện hành từ các hoạt động liên tục trước thuế;

3. 0,5% đến 2% tổng doanh thu hoặc tổng tài sản;

4. 1% đến 2% vốn chủ sở hữu.

Tỷ lệ % theo khoảng của các chỉ tiêu trên được dùng để đo lường mức trọng yếu có thể được hiểu như sau. Ví dụ, từ 0,5% đến 2% tổng doanh thu chỉ ra rằng nếu quy mô của thông tin sai phạm >2% doanh thu là trọng yếu; nếu quy mô sai phạm <0.5% doanh thu là không trọng yếu. Nếu quy mô sai phạm trong khoảng từ 0,5% đến 2% thì cần xem xét thêm và khi đó có thể xem xét thêm cơ sở xác định mức trọng yếu khác hoặc xin ý kiến của các chuyên gia.

Tính trọng yếu cần được xem xét cả về mặt định tính. Ủy ban Chứng khoán Hoa Kỳ (1999) cảnh báo các kiểm toán viên rằng nhân tố định tính cần được xem xét cùng với nhân tố định lượng. Nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố phi tài chính vào nhận định chủ quan về tính trọng yếu. Krogstad (1984) chỉ ra 5 nhân tố phi tài chính có thể ảnh hưởng đến xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên, đó là xu thế ngành; ban quản lý doanh nghiệp; tình trạng kiểm soát nội bộ; nhóm người sử dụng BCTC; và các chính sách kế toán.

Messier (1983) cho rằng ngoài các chỉ tiêu tài chính như thu nhập, xu hướng lợi nhuận, tổng tài sản, hàng tồn kho, tỷ suất thanh toán hiện hành thì các nhân tố phi tài chính cũng rất quan trọng trong việc phán xét mức trọng yếu, đặc biệt là kinh nghiệm và loại hình doanh nghiệp. Bản tin Kế toán số 99 (1999) của Ủy ban Chứng khoán Hoa Kỳ thảo luận về tầm quan trọng của nhân tố định tính trong việc xem xét và xác định mức trọng yếu. Bản tin này khuyến khích kế toán viên mở rộng sự nhìn nhận của mình về mức trọng yếu và yêu cầu đánh giá bổ sung xem sai phạm nào là cố ý hay phạm pháp. Các sai phạm cố ý thường chỉ ra sự yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị. Bản tin Kế toán số 99 (1999) cũng cho rằng các sai phạm nhỏ cũng có thể ảnh hưởng trọng yếu như sự thay đổi lợi nhuận, thay đổi lỗ thành lãi, giấu diếm thất bại của đơn vị …

Kết luận

Các nhà ban hành chính sách cho rằng tính trọng yếu nên được xem xét bởi kế toán viên liên quan đến từng trường hợp cụ thể và quyết định không ban hành chuẩn mực về tính ứng dụng mức trọng yếu. Do vậy, kế toán viên được trao quyền tương đối rộng rãi trong việc sáng tạo các tiêu chuẩn đo lường trọng yếu tùy theo nhận định chủ quan của mình.

Do thiếu hướng dẫn cụ thể về việc xác định mức trọng yếu, phương pháp định tính và định lượng được thiết kế để xác định mức trọng yếu của các sai phạm trên BCTC. Phương pháp định tính yêu cầu kế toán viên xét đoán dựa trên kinh nghiệm chủ nghĩa và phương pháp định lượng dựa trên quy mô sai phạm của thông tin tài chính và phi tài chính.

Việc xác định sai phạm của thông tin có trọng yếu hay không, xét cả về định lượng và định tính, điều này tùy thuộc vào ý tưởng chủ quan của ban quản lý doanh nghiệp và người lập BCTC. Tuy nhiên, nếu xuất hiện hành vi cơ hội trong việc che dấu thông tin trọng yếu thì người sử dụng BCTC cũng không thể nào phát hiện ra được. Quả thật sẽ quá khó khăn cho người sử dụng BCTC đánh giá xem đơn vị có trình bày đầy đủ các thông tin (định tính và định lượng) trên BCTC hay không. Người sử dụng BCTC có thể tin tưởng vào chất lượng kiểm toán do các công ty kiểm toán thực hiện kiểm toán BCTC. Tuy nhiên, chất lượng kiểm toán lại là thông tin không lượng hóa được nên việc xét đoán xem đơn vị có trình bày đầy đủ các thông tin trọng yếu trên BCTC hay không lại là điều huyền bí hơn đối với người sử dụng BCTC.

Rõ ràng sẽ không quá phức tạp để có thể hiểu được khái niệm về trọng yếu nhưng việc áp dụng tính trọng yếu trong việc trình bày các thông tin trên BCTC quả là rất phức tạp. Theo yêu cầu của IFRS có hiệu lực từ 1/1/2005 và được rất nhiều nước trên thế giới áp dụng, khối lượng thông tin được trình bày trên BCTC cao hơn gấp nhiều lần so với yêu cầu của các chuẩn mực kế toán trước đây. Vì vậy, nếu xác định không chính xác tính trọng yếu của thông tin, sẽ có hàng loạt các thông tin được trình bày trên BCTC và như vậy sẽ làm giảm giá trị của BCTC hoặc sẽ có quá ít thông tin được trình bày và sẽ làm cho người sử dụng BCTC không đủ thông tin về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, lưu chuyển tiền của đơn vị.

Cũng bởi vì tính trọng yếu trong việc trình bày các thông tin trên BCTC chủ yếu mang tính định tính hơn là tính định lượng, cho nên lại càng rất khó xác định. Cũng biết rằng mức trọng yếu sẽ ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của những người sử dụng BCTC những đúng là chúng ta biết quá ít về quá trình ra quyết định từ phía nhóm người sử dụng BCTC. Một khi chính những người hành nghề kế toán và kiểm toán còn mơ hồ về việc xác định mức trọng yếu thì người sử dụng BCTC sẽ không có nhiều cơ hội để đánh giá xem đơn vị có trình bày đầy đủ các thông tin trọng yếu hay không? Do vậy, để có thể trả lời xem các thông tin trọng yếu có được trình bày đầy đủ trên BCTC hay không sẽ vẫn còn là câu hỏi lớn mà những người sử dụng BCTC đang khám phá.

(Theo Tạp chí Khoa học Kiểm toán)

Cân bằng giữa kiểm soát (nội bộ) và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Bà Cao Thu Hằng

Bà Cao Thu Hằng là Chủ nhiệm Dịch vụ tư vấn của Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam. Bà có 6 năm kinh nghiệm làm việc tại Ernst & Young Việt Nam trong các lĩnh vực kiểm toán, kiểm toán nội bộ, chuẩn đoán, rà soát và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ, tư vấn về quản trị DN, quản trị rủi ro, xây dựng cẩm nang tài chính và đào tạo. Bà Hằng là thành viên của Học viên Kiểm toán viên nội bộ Hoa Kỳ [IIA].

K

iểm soát nội bộ (KSNB) là một hoạt động thường nhật không thể thiếu trong quản trị DN, được áp dụng tại bất cứ DN nào, không phân biệt quy mô hay lĩnh vực hoạt động. Tuy nhiên, mặc dù áp dụng hàng ngày, nhưng khái niệm KSNB chưa được hiểu và áp dụng một cách đúng đắn và bài bản tại nhiều DN Việt Nam. Hệ quả là hệ thống KSNB không phát huy hết tác dụng, dẫn đến hiệu quả hoạt động của DN bị hạn chế. Vậy, KSNB phải được hiểu và áp dụng như thế nào nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động của DN?

Các yếu tố cấu thành khung KSNB

"Kiểm soát" được định nghĩa là bất kỳ hành động nào được thực hiện để giảm nhẹ hoặc quản lý rủi ro và giúp cho các hoạt động kinh doanh/ quy trình đạt được mục tiêu của DN. KSNB là quy trình được thiết kế, thực hiện và duy trì bởi những người chịu trách nhiệm về quản trị, các nhà quản lý và các nhân viên khác nhằm đảm bảo khả năng đạt được các mục tiêu đề ra, liên quan đến: độ tin cậy của báo cáo tài chính và các thông tin liên quan khác; hiệu quả của hoạt động kinh doanh; tuân thủ pháp luật và các quy định pháp lý.

Ủy ban Các tổ chức tài trợ (COSO) đã xác định các yếu tố cấu thành nên khung KSNB như sau:

Mục tiêu kiểm soát:

- Hoạt động: Sử dụng nguồn lực hợp lý và hiệu quả

- Báo cáo tài chính: Báo cáo tài chính chính xác và tin cậy

- Tuân thủ: Tuân thủ quy định và luật pháp

- Môi trường kiểm soát: Phản ánh triết lý quản lý và phong cách hoạt động - "tiếng nói từ phía trên" và bao gồm tính trung thực, giá trị đạo đức và năng lực của nhân sự trong DN.

- Đánh giá rủi ro: Là sự nhận diện và phân tích các rủi ro liên quan. Đánh giá rủi ro thiết lập các mục tiêu, gắn liền các mục tiêu này với các cấp khác nhau trong DN một cách thống nhất.

- Các hoạt động kiểm soát: Bao gồm các chính sách và thủ tục nhằm đảm bảo thực thi các định hướng quản lý. Hoạt động kiểm soát được triển khai tại DN, ở tất cả các phòng ban chức năng và ở các cấp quản lý.

- Trao đổi thông tin: Hệ thống thông tin lập báo cáo, bao gồm thông tin hoạt động, tài chính và tuân thủ. Trao đổi thông tin diễn ra ở mọi góc độ của DN: rộng hơn, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên và trong toàn DN.

- Giám sát: Quy trình đánh giá hiệu quả hoạt động của toàn DN. Giám sát diễn ra trong suốt quá trình hoạt động.

KSNB không chỉ dừng lại ở quan điểm truyền thống là tập trung vào vấn đề tài chính. KSNB hiện nay còn tập trung nhiều vào quản lý rủi ro, mở rộng các yêu cầu về tuân thủ ra các vấn đề phi tài chính khác. KSNB cũng chuyển từ kiểm soát sang xu hướng cải tiền quy trình.

Như vậy, một hệ thống KSNB hiệu quả giúp DN tránh được những rủi ro ngoài kỳ vọng; giúp giảm rủi ro thiệt hại đến uy tín và danh tiếng của DN; đảm bảo việc tuân thủ với các quy định về pháp lý, chính sách và các quy định, thủ tục nội bộ; góp phần duy trì một hệ thống báo cáo tài chính và quản lý đáng tin cậy.

Vấn đề ở đây là làm thế nào để pháp huy được hiệu quả của hệ thống KSNB trong mỗi DN.

Cân bằng giữa mức độ kiểm soát và hiệu quả hoạt động

Ngày nay, các DN đã và đang nhận thức rõ tầm quan trọng của KSNB, bởi vì một hệ thống KSNB hiệu quả sẽ giúp DN tránh được những rủi ro ngoài kỳ vọng và là nền tảng giúp DN hoạt động hiệu quả, an toàn và bền vững. Tuy nhiên, không phải DN nào cũng có thể tìm ra cách thức kiểm soát phù hợp. Kiểm soát cũng giống như túi khí an toàn trong xe hơi, được đặt tại nơi được cho nhiều là rủi ro. Nhiệm vụ của nhà sản xuất là mang lại sự an toàn cho người sử dụng, nhưng cũng đảm bảo tính tiện ích và thẩm mỹ của chiếc xe đó. Tương tự như vậy, với các DN, câu trả lời không chỉ dừng lại ở việc liệu DN đó có thể kiểm soát được các rủi ro tiềm tàng hay không, mà DN có thể kiểm soát rủi ro đó như thế nào để hiệu quả hoạt động kinh doanh vẫn được đảm bảo.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin tự giới thiệu phương pháp tối ưu hóa hệ thống KSNB (xem hình 1). Theo đó, trọng tâm là việc cân bằng giữa mức độ kiểm soát và hiệu quả hoạt động.

Hình 1

Để đạt hiệu quả, hoạt động kiểm soát cần phải được tích hợp vào các quy trình kinh doanh và phục vụ cho cả hai mục đích tuân thủ và nâng cao hoạt động.

Làm thế nào để tối ưu hóa hệ thống KSNB?

Tối ưu hóa hệ thống KSNB là một quá trình được thực hiện trên quy mô toàn DN, đòi hỏi sự phối hợp của các bộ phận. Để thực hiện được mục tiêu tối ưu hóa hệ thống KSNB, DN cần xác định được mức độ hoàn thiện của hệ thống KSNB hiện tại cũng như mong muốn trong tương lai. DN cũng cần xem xét đến các lợi ích mang lại và chi phí bỏ ra để hoàn thiện hệ thống này.

Việc tối ưu hóa hệ thống KSNB được thực hiện qua 4 giai đoạn như sau:

Giai đoạn 1: Đánh giá hiện trạng hệ thống KSNB. Đánh giá hiệu quả của các điểm kiểm soát, khả năng ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro đối với DN. Phạm vi đánh giá bao gồm: tính hợp lý trong việc thiết kế các điểm kiểm soát giúp giảm thiểu rủi ro đối với DN và quy trình có liên quan; tính hiệu lực trong việc thực hiện triển khai các điểm kiểm soát và ảnh hưởng của việc không tuân thủ các điểm kiểm soát.

Giai đoạn 2: Xác định các thiếu hụt. DN cần tiến hành so sánh thực tế về KSNB tại DN với thông lệ kiểm soát của ngành nhằm xác định những điểm thiếu hụt/kém hiệu quả trong kiểm soát. Ngoài ra, cần phân tích nguyên nhân của các thiếu hụt/kém hiệu quả nói trên và hậu quả tương ứng.

Giai đoạn 3: Đưa ra các giải pháp hoàn thiện. Ở giai đoạn này, sau khi đã xác định được các thiếu hụt/yếu kém trong hệ thống KSNB, DN cần tiến hành tìm kiếm các giải pháp cải tiến phù hợp dựa trên việc xác định và phân tích các thiếu hụt cũng như sự kém hiệu quả trong việc thực hiện các kiểm soát trên phạm vi toàn DN.

Giai đoạn 4: Thực hiện các giải pháp. DN cần xác định mức độ ưu tiên của các giải pháp dựa trên thông lệ kiểm soát tốt nhất và các yêu cầu chiến lược khác cũng như khả năng thực hiện các cải tiến này để có thể xây dựng và thực hiện kế hoạch hành động phù hợp và hiệu quả nhất.

(Theo ĐTCK)

LIÊN KẾT LOGO

Liên kết cùng Kế toán - Tài chính